Chiến dịch gây quỹ "Cánh Diều Hy Vọng, Hè 2024"

Thầu dầu là một vị thuốc tốt trị nhuận trường, chữa táo bón, thông tiện...

Thầu dầu là một vị thuốc tốt thường thấy trong dân gian với công dụng nhuận trường, chữa táo bón, thông tiện và nhiều lợi ích khác. Tuy nhiên hạt thầu dầu lại có chứa độc tính nguy hiểm cần phải được loại bỏ trước khi sử dụng.

Đặc điểm của cây thầu dầu

Cây thầu dầu hay còn gọi là đu đủ tía có tên khoa học Ricinus Communis, thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae). Tên gọi khác là đu đủ tía, dầu ve, tỳ ma, dù xủng, co húng hom (Thái), mạ puông sí (Dao), slùng đeng (Tày).

Cây thầu dầu - Tác dụng và lưu ý khi sử dụng

Cây Thầu dầu là loài cây sống lâu năm, thân yếu, cao 4 - 5m, có thể phát triển đến 10 - 12m, vỏ thân có màu sắc khác nhau tùy thứ, các cành non đều có phấn trắng.

Lá lớn, mọc so le, lá có thùy chân vịt sâu, gồm 5 - 7 - 9 có khi tới 11 thùy, mép lá có răng cưa không đều; cuống dài, có tuyến; lá kèm rụng sớm.

Cụm hoa ở ngọn hay ở nách lá, thành chuỳ, hoa đực ở phía dưới, hoa cái ở trên, có nhiều lá bắc phủ ở ngoài.

Quả nang màu lục hay màu tím nhạt, có gai mềm, chứa 3 hạt. Hạt hình bầu dục, hơi dẹt, có mồng lớn, bề mặt nhẵn, ở đầu có móng (chính là áo hạt của noãn khổng), màu nâu xám, có vân đỏ hay nâu đen.

Bộ phận dùng là hạt (Fructus Ricini), thu hoạch khi quả già; dầu ép từ hạt (Oleum Ricini); ngoài ra còn dùng lá (Folium Ricini) và rễ (Radix Ricini).

Mùa thu hoạch hạt vào tháng 4-5. nhưng chủ yếu với mục đích ép dầu dùng trong công nghiệp.

Cây thầu dầu - Tác dụng và lưu ý khi sử dụng

Cây thầu dầu có nguồn gốc từ Bắc Ấn Độ và được trồng để ở các khu vực khí hậu nhiệt đới để để lấy lá và hạt để ép dầu.

Cây thường mọc ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta: Hòa Bình, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Lào Cai. Bộ phận dùng chữa bệnh là lá, thân và hạt.

Thành phần hoá học

Hạt Thầu dầu chứa 40 - 50% dầu, 25% chất albuminosid, một chất có tinh thể và nitrogen (ricidin), acid malic đường, muối, cellulose, ricin (chất có thể gây ngộ độc) và ricinin, các men trong đó có men lipase (men này có công dụng trong điều trị khó tiêu). Dầu chiết xuất từ hạt bằng phương pháp ép lạnh chứa nhiều chất hữu cơ có gốc là glycerin (50 - 60% trong đó có stearin cholesterin, ricinolein, palmitin) và acid béo (acid linoleic, acid oleic và acid stearic).

Theo y học cổ truyền

Hạt Thầu dầu có vị ngọt, cay, tính bình, có độc; có tác dụng tiêu thũng bài nung, bạt độc. Chất ricin là một protein độc ở trong hạt, chất này biến mất khi bị ép, vì nó nằm lại trong khô dầu.

Cây thầu dầu - Tác dụng và lưu ý khi sử dụng

Dầu từ hạt Thầu dầu có tác dụng nhuận tràng thông tiện. Dầu Thầu dầu là một chất lỏng dính, có mùi khó chịu gây nôn mửa, nó có tính nhuận tràng và xổ. Tác dụng này khá nhanh, không gây kích thích ống tiêu hoá.

Lá có vị ngọt, cay, tính bình, ít có độc; có tác dụng tiêu thũng bạt độc, chống ngứa.

Rễ nhạt, hơi cay, tính bình, có tác dụng khư phong hoạt huyết, giảm đau trấn tĩnh.

Theo y học hiện đại

Dầu Thầu dầu được chỉ định dùng trong bệnh táo bón của trẻ em, phụ nữ có thai, bệnh nhân mổ và sản phụ.

Hạt dùng chữa sa tử cung và trực tràng, lỵ, sót nhau, đẻ khó, liệt thần kinh mặt, viêm mủ da, viêm hạch lao, dằm đâm vào thịt; dầu hạt trị mụn nhọt thũng độc, hầu tê, đại tiện táo kết, tràng nhạc.

Lá được dùng trị viêm mủ da, eczema, mẩn ngứa, ung nhọt, viêm tuyến vú, viêm đau khớp, diệt dòi, giết bọ gậy.

Rễ dùng chữa phong thấp đau nhức khớp, đòn ngã sưng đau, sài uốn ván, động kinh, tinh thần phân liệt.

Bài thuốc sử dụng cây thầu dầu

Cây thầu dầu - Tác dụng và lưu ý khi sử dụng

Chữa phong thấp, viêm khớp, bị thương đau nhức, bại liệt, tay chân tê mỏi

Rễ thầu dầu 30g, dây đau xương, lõi thông, mỗi vị 20g. Sắc chia làm 3 lần uống trong ngày.

Chữa hen suyễn

Lá thầu dầu 12g, phèn phi 8g, giã nhỏ, trộn với thịt lợn băm rồi gói trong lá sen non, đun lửa nhỏ nấu chín

Liệt thần kinh mặt

Giã hạt Thầu dầu ra và đắp vào phía đối diện mặt bị liệt.

Lưu ý khi dùng cây thầu dầu

Trong hạt thầu dầu có alkaloid độc, có tính làm đông. Dùng liều lượng theo chỉ định, không được dùng quá liều và phải chia ra uống cách nhau vài giờ mỗi liều để tránh gây độc.

Thầu dầu là một vị thuốc Nam quý nhưng có chứa độc tính nhất định. Vì vậy để phát huy được tác dụng điều trị cũng như đảm bảo an toàn, người bệnh cần tìm hiểu kỹ và trao đổi với bác sỹ trước khi sử dụng.