Soi bóng cội nguồn và hình tượng thơ nữ ấn tượng hải ngoại

Thơ Thục Uyên đọng lại trong tâm hồn người đọc bởi những liên tưởng phong phú. Thơ chị là tiếng lòng của một người phụ nữ đầy bao dung và giàu lòng nhân ái; với ngôn ngữ thơ tự nhiên chứa đầy cảm xúc, vừa trữ tình da diết vừa đau đáu nỗi đời, nỗi người.

Là tâm sự của một người đàn bà giàu lòng trắc ẩn…

Mỗi bài thơ của chị là biết bao nỗi niềm chất chứa được gửi gắm vào đó. Từ khi rời quê hương, Thục Uyên lặng lẽ viết, viết như để giãi bày những gan ruột, những gì chị nhìn thấy, những gì chị rung cảm, đau xót trước bao thăng trầm, biến cố của con người và thời cuộc.

Thục Uyên đến với thơ không phải để khẳng định tên tuổi, cũng không phải để mình được danh xưng nhà thơ mà chị đến với thơ một cách tự nhiên, hồn hậu. Tìm đến thơ, trải lòng với thơ đó là cách mà Thục Uyên cảm thấy tâm hồn mình như được thanh lọc, thư thái và an toàn nhất.

Đến với thơ và coi thơ như một đức tin tôn giáo, một sự cứu rỗi tâm hồn, nên chị đã sống vẹn toàn với thơ bằng sự hồn nhiên, trong trẻo. Mỗi câu thơ, bài thơ chị viết đều như trút cả tâm can mình vào đó. Người đọc thấy hầu như bài thơ nào của chị cũng man mác nỗi buồn. Nỗi buồn đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng tựu trung vẫn là những nỗi đau đáu hoài niệm về quê hương, về người thân, về bạn bè và cả những nỗi đau nhân thế.

Hạnh phúc đích thực là khi con người hướng đến những giá trị tinh thần mang tính nhân văn sâu sắc. Đó có thể là những điều quá đỗi bình thường, giản dị nhưng đôi khi vì mải mê công việc, vì nặng nợ áo cơm hoặc cũng có thể vì hiện tại cuộc sống đủ đầy mà có người đã quên đi quá khứ của những năm tháng khổ nghèo. Với Thục Uyên, nỗi niềm với mảnh đất quê hương, với bao kỷ niệm một thời lần lượt hiện diện trong thơ của chị.

Bài thơ Nhớ cao nguyên là một trong những bài thơ hay của Thục Uyên. Hình ảnh người mẹ tảo tần, vất vả, hi sinh hôm sớm đã trở thành biểu tượng, trở thành lẽ sống cho chị. Nhớ cao nguyên là nỗi nhớ bao trùm nhưng mẹ chính là trung tâm của nỗi nhớ. Ở đó gắn liền với nhiều thứ bình dị, gẫn gũi và đã in đậm trong trí não đứa con. Người con ấy, dù đã rời xa mảnh đất quê hương, nơi chở che và ghi dấu những năm tháng đầy ắp kỉ niệm. Nơi có căn nhà nhỏ, có ngọn đèn dầu le lói thắp đêm khuya, có hình ảnh của mẹ lom khom nấu chiều khơi trong bếp nhỏ. Bao hình ảnh thân thương lại hiện về, những năm tháng gian lao, khốn khó hiện diện trong tâm thức của người con. Điệp khúc Con sẽ về được lặp đi lặp lại 4 lần. Đó là nỗi mong chờ da diết của một đứa con xa quê muốn được trở về mảnh đất nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn với bao ký ức niềm thương mà con và cả gia đình đã trải qua. Cơ bản là những chuỗi dài buồn, nỗi buồn được chắt lắng và trở thành nỗi ám ảnh, day dứt. Sống ở vùng đất khắc nghiệt “nắng – gió – mưa – bão” nên con người phải luôn chống chọi với thời tiết bất thường này. Vùng đất ấy đã trở thành nỗi nhớ, niềm thương, nỗi nhung nhớ không thể nguôi ngoai trong tâm khảm của một người đứa con (giờ đã đứng tuổi) xa quê nhưng lại rất nặng nợ với quê nhà. Nhà thơ tự thức:

Tôi đã mất mùa xuân từ daọ ấy

Từ thuở đời tao loạn buổi chia ly..

Thân trôi nổi với chợ đời cơm áo

Dám mong gì xuân đến với xuân đi!

Hai mấy năm xuân về trên đất lạ...

Luôn nhớ về mùa xuân tuổi ấu thơ

Dòng sông kia có ngược về dĩ vãng

Chuyên chở cho tôi mùa xuân cũ đợi chờ.

Tha thiết và gắn bó với quê hương, với cuộc đời nên nhà thơ Thục Uyên đã có rất nhiều bài thơ hay viết về đề tài này. Có thể kể ra một số bài như: Soi bóng cội nguồn, Kinh khổ, Tìm mãi mùa xuân, Những cơn gió cuối mùa, Em đi, Này em có nhớ, Từ lúc em đi, Nhớ Huế, Nhớ cao nguyên, Những sợi buồn... mà khi đọc, người đọc sẽ không thể nào không nghĩ suy, không day dứt. Đặc biệt là những người con xa xứ nhưng trong trái tim vẫn luôn hướng về nơi cội nguồn sinh dưỡng, nơi chứa đựng không biết bao nhiêu mối ân tình.

Thơ Thục Uyên đọng lại trong tâm hồn người đọc bởi những liên tưởng phong phú, tứ thơ lạ cùng với những hình ảnh mang tính biểu trưng. Ngôn ngữ thơ tự nhiên nhưng chứa đầy cảm xúc, bộc lộ được bản sắc cá nhân – đó là một hồn thơ trữ tình da diết, đau đáu nỗi đời, nỗi người. Thơ chị là tiếng lòng của một người phụ nữ đầy bao dung và giàu lòng nhân ái. Những kỷ niệm thường trực thao thức tạo nên những dòng chảy bền bỉ vừa thực, vừa mang nét u huyền. Đôi lúc là nỗi đau, sự u uất, nghẹn ngào của nhà thơ.

Em đi là một trong số những bài thơ ấn tượng của Thục Uyên. Ở đó trùng điệp những nỗi buồn. Lời thơ nhẹ nhàng nhưng nó như vết dao cắt cứa vào tâm can, giăng mắc vào lòng người bao nhiêu câu hỏi. Nhà thơ đã trải qua những năm tháng thăng trầm, nhiều mất mát, tổn thương và vốn là người nặng tình nên điều gì cũng làm cho chị trăn trở, day dứt:

Gió vẫn phất phơ chiều đông muộn

Nắng võ vàng thấp thoáng dáng em

Lũ chim trắng u hoài như phế tích

Vỗ cánh buồn luyến nhớ dấu chân êm..

.............................................

Lối em đi rừng xưa đã khép

Màu lá xanh chia biệt buốt cô đơn

Em chỉ còn phôi pha như ký ức

Trăng lụi tàn tan tác giấc mơ đêm..

Em đã về chưa con ngõ vắng?

Dốc mơ cao, mùa cỏ úa hoang vu…

Tiếng gà gáy vọng trong trưa nắng

Em có còn thương nhớ tiếng mẹ ru?

Em đã xa, mịt mù như bóng tối ..

Như loài chim vỗ cánh dị kỳ

Chỉ hiển linh trong cạn cùng nỗi nhớ..

Mất dấu rồi biền biệt cánh thiên di!

Là những câu chuyện ký ức đi theo năm tháng thuở thiếu thời…

Vùng quê chị đã sinh ra, lớn lên và gắn bó thuở nào (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế, Lâm Đồng) giờ đã trở thành không gian hoài niệm vĩnh cửu. Vì thế, trong thơ Thục Uyên tứ thơ phần nhiều bắt nguồn từ nỗi nhớ: tôi đi tìm mãi trong màu nhớ, tôi đi tìm lại một mùa xuân, Bao giờ nhớ Huế về thăm Huế, Bước người xa thầm lặng mỏi mòn, em giờ xa xôi quá, Đất mẹ gầy ôm ấp cả tuổi thơ, màu kỷ niệm ươm vàng nỗi nhớ, Từng đêm về giấc mơ đời vụn vỡ, Em có còn thương nhớ tiếng mẹ ru? Tôi đã mất mùa xuân từ daọ ấy...

Nhà thơ Thục Uyên

Nỗi buồn giăng mắc vào cả không gian và thời gian, Thục Uyên chỉ biết trải lòng mình bằng những giọt buồn xốn xang của một trái tim đa cảm. Nhà thơ khao khát trở về những năm tháng của tuổi thơ vô tư, hồn nhiên như cỏ cây hoa lá. Điều ước ấy tưởng đơn giản nhưng không thể thực hiện được khi mọi thứ đã đổi thay và thời gian đã không cho phép. Bởi tuổi già đã ập đến và đặc biệt hơn đó là khoảng cách về mặt không gian xa tít mù khơi!

Tình thương và sự sẻ chia đã xây nên những vần thơ chân thành, mộc mạc mà giàu tình nghĩa. Lòng quặn đau khi nhà thơ chứng kiến nhiều hoàn cảnh, mảnh đời bất hạnh. Đó có thể là cảnh ngộ của cô gái Việt sống tha hương nơi đất khách:

Này em người con gái da vàng

Số phận khắc ghi em bằng sắc tố

Dòng máu Việt Nam da vàng ôi khốn khổ

Chạy lang thang khắp mặt địa cầu

Có những chiều ảo não tiếng đàn bầu

Những cánh chim tựa vào nhau xơ xác

Những ngày vui quê hương ơi xa lắc

Còn được không về soi bóng cội nguồn?

Em chưa lớn lên sao đã biết buồn

Ước mơ đi qua tủi hờn rất thật

Vị mặn trên môi, vị sầu lên mắt

Lịch sử ngậm ngùi đắng ngắt tuổi thơ

Tới xứ người những khuôn mặt ngây ngô

Miệng khờ khạo vài ba câu sinh ngữ

Bập bẹ áo cơm, thuộc lòng năm ba chữ

Nguôi ngoai không, đêm viễn xứ đầy sao..

Phi cơ lướt bánh trên phi đạo

Nghiến tái tê rách nát mặt đường

Mẹ rưng rưng nhìn con tiễn biệt

Em nhớ rằng em có một quê hương ...

(Này em có nhớ)

Bao nhiêu câu hỏi đặt ra về kiếp người, lẽ sống, niềm tin, sự hạnh phúc – khổ đau... của những cô gái da vàng đang mưu sinh ở hải ngoại. Càng xót xa hơn là những cô gái Việt Nam lấy chồng ngoại quốc, “sang sông” rồi từ đó biền biệt không về!

"Sang sông hôm ấy đò đưa/ Hương cau ngan ngát, bến xưa mẹ buồn/ Em cười vén vạt áo hường/ Con đi dăm bữa về thường mẹ yêu !

Vậy là bao buổi chiều êm/ Nhà vắng bóng chị buồn tênh mẹ ngồi.../ Mâm cơm chiều đã dọn rồi/ Cha ngồi chống đũa mắt trôi phương nào...

Mẹ buồn gói hết thương yêu/ Ôm con trong mộng, lưng chiều sao sa.../ Mẹ ơi đừng gả con xa (*)/ Chim kêu vượn hú biết nhà mẹ đâu?"

Giấc mộng đổi đời, “sính” lấy chồng ngoại quốc để rồi biết bao cô gái phải “sập bẫy”. Ở phương trời xa, họ mòn mỏi được trở về nhà, về quê hương nơi có mẹ cha, gia đình, bè bạn nhưng tất cả đều vô vọng. Đau đớn. Buồn tủi. Nhục nhã. Ê chề...

Khi biết tin người bạn trẻ không may mắc bệnh hiểm nghèo, trái tim đa cảm của chị lại nhói đau. Bằng việc sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ và nhân hóa, chị đã khéo léo gửi gắm rất nhiều điều vào bài thơ Kinh khổ.

Hay sự ra đi của những người thân yêu, ruột thịt làm cho Thục Uyên hụt hẫng, bàng hoàng. Chị thấm thía sự mất mát của đời người. Dẫu biết rằng đó là quy luật tất yếu. Điều quan trọng không phải là những tháng ngày tồn tại dài hay ngắn mà ý nghĩa của cuộc sống – giá trị của con người mới là điều đáng lưu tâm. Sự sống – cái chết dưới cái nhìn đầy nhân văn, với sự liên tưởng, so sánh độc đáo, nhà thơ đã làm sáng tỏ ý nghĩa triết mỹ của nó.

Thục Uyên đã vận dụng sáng tạo các biện pháp nghệ thuật để tạo ra những dòng thơ ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu xa. Ẩn dụ, so sánh, nhân hóa và tương phản là những phương thức được nhà thơ chú trọng.

Em đợi mưa về mưa tháng bảy/ Bớt héo khô những ngọn cỏ lưu đày/ Lũ chim biệt xứ thôi nhớ tổ / Dấu hạ buồn trên những cánh bay (Những sợi buồn).

Biển vẫy gọi những bến bờ xưa cũ/ Cánh buồm nào căng gió nhớ bến mơ ?/ Hàng dừa xanh lả ngọn cười soi bóng/ Vật vờ trong nỗi nhớ đã tàn tro...(Biển nhớ).

Chiều đã xuống về thăm dòng sông cũ./ Nơi ta về một nửa đã cạn khô./ Một nửa dòng kia đang chảy lặng lờ/ Sa mạc trong hồn nuối tiếc tuổi ngây thơ...(Về thăm Quảng Ngãi)

Là hành trình kiếm tìm hạnh phúc trong những trăn trở và suy tư…

Thục Uyên không bao giờ dừng lại ở những cảm xúc bề ngoài mà luôn đi vào bên trong để khám phá, phát hiện bản chất của vấn đề. Từ đó, chị nghiền ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời, tình người một cách sâu sắc. Nhà thơ suốt đời kiếm tìm hạnh phúc trong những trăn trở và suy tư. Nhưng giữa sâu thẳm của dòng thời gian, hạnh phúc vĩnh viễn chỉ là một niềm mơ ước.

Một trong những tác phẩm văn học mang đầy tiếng lòng, tâm sự của nhà thơ Thục Uyên 

Các hệ từ chỉ sự buồn đau, xa vắng, chia ly... được nhà thơ sử dụng dày đặc. Không khó để bạn đọc nhận ra các từ như: lưu lạc, bơ vơ, buốt lạnh, vụn vỡ, lịm tắt, đọa đày, nhạt màu, điệu buồn, hiu hắt, đơn côi, mịt mù, hỗn mang, truân chuyên, đổ vỡ, xác xơ, chông chênh, long đong, u uất, vỡ nát, mịt mùng, vết đau, bạc bẽo, rụng rơi, tái tê, tao loạn, nghiệp, nợ, nỗi sầu, xót xa, ngàn trùng, trầm luân, mỏi mệt, tro bụi, âm u, tan hoang, ngơ ngác, nổi trôi, quạnh hiu, khóc, lao đao, đa đoan, chua xót, băng giá, lâm chung, thoi thóp, tan tác...

Trong hành trình sáng tạo, Thục Uyên viết về cái tôi bản thể có lẽ là những vần thơ sinh động và để lại nhiều dư âm nhất trong lòng độc giả. Bởi ở đó, chị đã bộc bạch, giãi bày thành thật nhất, rõ ràng nhất những điều sâu kín của tâm hồn. Đâu đó có tiếng nấc nghẹn vì buồn tủi, tiếng thở dài của những ước vọng không thành, những giọt nước mắt vọng lại từ nỗi đau còn mới nguyên hay cả những tiếc nuối xa xôi ngỡ như đã ngủ yên.

Người hỏi tôi khi nào về cố xứ ?

Đến khi nào mỏi mệt cánh thiên di !!

Mưa vần vũ trên bầu trời u ám

Mây cũng bẽ bàng với cuộc chia ly...

(Cánh chim Việt)

Thơ Thục Uyên chứa nhiều gam màu trái ngược, nỗi buồn xuyên suốt nhưng không phải là sự tuyệt vọng mà đó là những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc sống, về tình đời, tình người. Hiện tại – Quá khứ - Tương lai đan cài vào nhau và mở ra nhiều không gian khác đã làm cho tâm hồn thi sĩ tha hương như chị luôn khắc khoải, buồn thương và cả sự xót xa khi nhớ về quê cha đất Tổ. Giọng thơ Thục Uyên vừa tâm tình, thủ thỉ, vừa trữ tình sâu lắng và cũng không kém phần cay đắng xót xa. Từ sắc thái, giọng điệu thơ; người đọc có thể hình dung ra hình ảnh của thi nhân. Đó là một đứa con của tình yêu quê hương sâu đậm, lặn sâu vào thân phận dân tộc mình, bản thể mình để suy tư, để nghiệm sinh về bản thể đời sống, con người./.

Ths. Nguyễn Văn Hòa

Link nội dung: https://songkhoeplus.vn/soi-bong-coi-nguon-va-hinh-tuong-tho-nu-an-tuong-hai-ngoai-a661.html